Thứ Hai, 23 tháng 4, 2012

DOANH NGHIỆP DÁM MẶC CẢ VỚI NGÂN HÀNG

Điều rất cần cho doanh nghiệp là không phải thái độ quy thuận như trước đây, mà sắp tới họ cần phải mặc cả với ngân hàng, về từng khoản vay và cả từng điều khoản vay, với thái độ không phải của kẻ sắp chết đuối, mà là người cầm dao đằng chuôi."
Ngân hàng và chuyện nhân - quả
Vào lần hạ lãi suất này, rất nhiều khả năng luồng ý kiến cho rằng Ngân hàng nhà nước chỉ thuần túy "mị dân" là thiếu cơ sở. Không thật nhanh chóng, nhưng khá nhiều ngân hàng đang giảm dần mặt bằng của hai loại lãi suất huy động và cho vay. Tất nhiên tâm lý đánh đố vẫn bao phủ thị trường tín dụng như thời gian hai tháng 2-3/2012, nhưng không khí doanh nghiệp vào lúc này có vẻ như lạc quan hơn. Ít ra, họ cũng "cảm nhận" được ý nghĩa thực thụ của câu sấm "Trạng chết, chúa cũng băng hà".
Thực tế, nhóm ngân hàng đang vướng vào "vòng lao lý" bởi chính họ gây ra. Do đã siết thị trường tín dụng quá lâu và quá khắc nghiệt, dẫn đến cái chết thực thể cho hàng chục ngàn doanh nghiệp và hàng trăm ngàn doanh nghiệp khác vẫn đang lâm vào trạng thái chết lâm sàng, lòng tham cố hữu và quá quắt của nhóm lợi ích ngân hàng đã khiến cho rất nhiều doanh nghiệp, hoặc đã gần như kiệt sức mà không còn tự tin để vay vốn, hoặc mất lòng tin đến độ luôn bị ám ảnh bởi cú đo ván từ phía ngân hàng - đã xảy ra và có thể sẽ xảy đến bất kỳ thời điểm nào.
Nhưng lần này, khác hẳn với giai đoạn quý 4/2011 và cũng khác nhiều với tháng 3/2012, khối ngân hàng lại tỏ ra nhiệt tình và sốt sắng hơn hẳn trong việc chủ động giảm lãi suất. Vào 2 tháng đầu của năm nay, nếu như chỉ có một số không nhiều những ngân hàng lớn như Vietcombank, Vietinbak, và BIDV giảm nhỏ giọt lãi suất, với đương nhiên lượng vốn cung cho vay cũng nhỏ giọt theo, thì nay đã có những ngân hàng loại vừa như DongABank đã giảm lãi suất kỳ hạn 13-36 tháng chỉ còn 10%. Đồng thời, cũng có thông tin về vài ba ngân hàng khác cũng đã áp kỳ hạn gửi tiền dài hạn chỉ còn dưới 10%. Hiện tượng này nói lên cái gì?

Bài toán đặt ra với khối ngân hàng đang trở nên vừa nan giải vừa dễ hiểu. Vừa phải nhận lãnh hậu quả do chính mình gây ra, họ vừa thấm nhuần một "đạo lý" là muốn cho vay thông thoáng thì chỉ còn cách giảm lãi suất huy động, một khi NHNN không áp trần lãi suất cho vay.
Mà cơ chế áp trần lãi suất cho vay thì lại có vẻ không được NHNN chấp thuận. Phải chăng vì phương châm "điều hành tín dụng linh hoạt" nên NHNN cũng thả cho lãi suất cho vay dao động trong trạng thái "uyển chuyển"? Riêng trong giới ngân hàng, nhiều người lại thừa hiểu là tính "linh hoạt" của lãi suất cho vay mà không cần áp trần sẽ ít nhất làm cho mục tiêu điều phối và chi phối của NHNN về thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng dễ dàng hơn nhiều so với một cơ chế nào đó mang tính cố định.
Đã đến lúc mặc cả với ngân hàng
Tuy vậy, tình thế hiện thời đã khác cơ bản với thời kỳ "làm mưa làm gió" của NHNN và nhóm lợi ích ngân hàng. Điều kiện then chốt cho sự thay đổi đột ngột về tình thế như vậy không phải bắt nguồn từ lòng hảo tâm của nhóm ngân hàng khi nhìn thấy các doanh nghiệp rơi vào thế kiệt quệ, mà chính bởi khối doanh nghiệp đã thật sự bị tống vào một đường hầm tối tăm không lối thoát, để từ đó, doanh nghiệp sản xuất đã có điều kiện tốt nhất để nhận ra "gót chân Asin" của nhóm lợi ích ngân hàng.
Sẽ không thể có bất kỳ lối thoát nào cho doanh nghiệp nếu chính sách tín dụng không được nới lỏng một cách hợp lý. Nhưng giờ đây, cái tính hợp lý như vậy lại được hầu hết các doanh nghiệp nhận ra: nếu ngân hàng không mở hầu bao thì tất cả sẽ cùng chết. Sự khác biệt chỉ còn là người chết trước và kẻ chết sau. Liệu các ngân hàng sẽ cầm cự được bao lâu sau khi nhiều doanh nghiệp "chết trên đống tài sản khổng lồ"? Chỉ biết rằng đến một thời điểm nào đó, ngân hàng cũng phải quỵ ngã.
Một "tuyên ngôn" bất thành văn khác cũng đã từ lâu lan truyền trên vỉa hè của giới kinh doanh: làm thế nào mà nhóm doanh nghiệp sản xuất được vay vốn nếu chính doanh nghiệp BĐS không được cứu? Còn giờ đây, hẳn nhiên là doanh nghiệp BĐS đang tràn đầy hy vọng được tiếp tục bơm vốn cho những dự án vẫn còn nguyên dang dở, và do vậy không nhiều thì ít, dòng vốn từ ngân hàng tuôn ra cũng phần nào làm giảm nhẹ hình ảnh "ruộng khô lúa cháy" mà chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành đã dùng để mô tả tình trạng doanh nghiệp Việt Nam vào đầu năm nay.
Trước mắt trong quý 2 năm nay, như thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình đã chuyển thông điệp cho nhóm ngân hàng, sẽ là thời gian giảm lãi suất và đẩy mạnh cho vay. Do vậy các doanh nghiệp sản xuất, nông nghiệp và xuất khẩu cũng nên tận dụng cơ hội này để "tiếp cận nguồn vốn vay giá rẻ".
Vấn đề còn lại chỉ là "rẻ" đến mức độ nào mà thôi. Mà muốn đạt đến sự hợp lý như thế, điều rất cần cho doanh nghiệp là không phải thái độ quy thuận như trước đây, mà họ cần phải mặc cả với ngân hàng, về từng khoản vay và cả từng điều khoản vay, với thái độ không phải của kẻ sắp chết đuối, mà là người cầm dao đằng chuôi.

XĂNG TĂNG GIÁ DOANH NGHỆP RƠI VÀO THẾ KẸT

Không chỉ làm tăng chi phí đầu vào, việc giá xăng dầu tăng thêm từ 400 – 900 đồng/lít vào ngày 20/4 được nhiều doanh nghiệp xem như cú đánh mạnh vào sức mua vốn đã yếu, làm bít đầu ra của sản xuất.
Ngày 22/4, hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm khẳng định họ đã nhận được thông báo tăng giá cước từ các đơn vị vận tải. Mức ít thì 1 – 2%, nhiều thì 5 – 10%.
Chi phí đầu vào lại tăng
Ông Nguyễn Tuấn Phương, giám đốc nhà máy thực phẩm Đồng Nai (D&F) cho biết đợt tăng giá xăng dầu ngày 7/3, doanh nghiệp vận tải chưa tăng cước, nhưng đến đợt này (ngày 20/4) liền thông báo tăng gộp hai đợt thêm 10%. Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Ký, tổng giám đốc Agifish An Giang cho biết, kể từ đầu năm đến nay, chi phí đầu vào các mặt hàng thuỷ sản đông lạnh bán nội địa đã tăng 20%. “Quý 1 năm nay chúng tôi tính toán mức tăng chi trung bình trên mỗi sản phẩm là 7.000 đồng so với cùng kỳ”, bà Lê Thị Thanh Lâm, phó tổng giám đốc công ty Sài Gòn Food cũng nói.
Đối với những người đi biển, dầu tăng 500 đồng/lít, đồng nghĩa với việc chi phí một chuyến đi biển tăng thêm ít nhất 15 triệu đồng. Ông Trần Văn Hoa, ngư dân xã Phước Tĩnh, huyện Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu cho biết đợt tăng giá dầu cách nay hơn một tháng đã có rất nhiều ngư dân không dám đi biển, vì tiền bán cá không đủ chi phí. Lần này tăng tiếp xem như cuộc sống của ngư dân khó dựa vào biển khi giá hải sản giảm vì sức mua thấp. “Cuối năm ngoái ngư dân bán cá phèn, cá đổng cho doanh nghiệp chế biến xuất khẩu từ 18.000 – 20.000 đồng/kg, nhưng nay chỉ còn 12.000 – 16.000 đồng”, ông Hoa kể. Cá bò, sản phẩm đang khai thác chính trong mùa này từ mức giá năm ngoái 10.000 đồng/kg, nay chỉ có 3.000 – 4.000 đồng. 


Bế tắc vì sức mua thấp
Sức mua quá thấp, đã thể hiện khá rõ qua giá tiêu dùng TP.HCM trong tháng 4/2012 này chỉ tăng 0,08%, đây là mức tăng thấp nhất trong 19 tháng qua.
Xăng tăng giá, các tiểu thương đã dự đoán chi phí vận chuyển hàng từ chợ đầu mối về chợ lẻ sẽ tăng thêm khoảng 5.000 – 15.000 đồng/chuyến tuỳ địa điểm. Thế nhưng bà Nguyễn Thị Hà, bán rau củ quả chợ Hoàng Hoa Thám, Tân Bình nói: “Làm sao dám tăng giá khi chợ đầy hàng, sạp này đang phải nhìn sạp kia mà kéo giá xuống rủ khách vào mua?”
Ở công ty Sài Gòn Food, bà Lâm ghi nhận lượng khách mua các sản phẩm đông lạnh cho nhu cầu tiệc, hải sản cao cấp giảm 20%.
Ông Trương Chí Thiện, giám đốc công ty Vĩnh Thành Đạt, cũng nói: “Nếu tăng giá thì doanh số còn sụt nữa nên chúng tôi phải ráng cầm cự giữ nguyên giá cũ”.
“Lúc này chúng tôi không dám nghĩ tới chuyện tăng giá”, ông Nguyễn Tuấn Phương cho biết.
Ráng... gồng
Nhiều doanh nghiệp cho hay, gần như các biện pháp nhằm giảm chi phí, tối ưu hoá sản xuất đều đã được áp dụng như ở những công ty Sài Gòn Food, Agifish An Giang, Vĩnh Thành Đạt, Ba Huân… Thế nhưng việc giá đầu vào tăng liên tục, giá bán không thể tăng theo, lợi nhuận trở thành thứ “quá xa xỉ” như lời ông Nguyễn Văn Ký, tổng giám đốc Agifish An Giang.
Bà Lâm khẳng định: “Lúc này dù hoà hay lỗ vốn doanh nghiệp vẫn phải cầm cự, bởi nếu không tiếp tục sản xuất sẽ mất công nhân, mất khách hàng…”
Doanh thu ba tháng đầu năm nay của Vĩnh Thành Đạt ngang mức cùng kỳ, và để giữ được mức này công ty phải đầu tư mở thêm kênh phân phối, tuyển thêm người, thêm chi phí bán hàng để kéo khách. Chỉ tính riêng tiền xăng dầu tăng thêm lần này, mỗi tháng công ty Vĩnh Thành Đạt phải bỏ thêm 20 triệu đồng chi phí. “Chi phí tăng nhưng doanh thu không tăng”, dù vậy theo ông Thiện thì, “Phải làm chứ không ngưng được bởi tiền đầu tư đã bỏ ra, nếu ngưng sẽ mất tất cả”.

BỘ TÀI CHÍNH XEM XÉT MUA LẠI NỢ CỦA BIANFISHCO

Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng (Bộ Tài chính) đang cân nhắc mua lại số nợ 200 tỷ đồng của nông dân, giúp Công ty thủy sản Bình An giải quyết khủng hoảng.

Trao đổi với PV chiều ngày 18/4, ông Nguyễn Thanh Sơn - Chủ tịch UBND TP Cần Thơ cho biết, theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) đã đến Cần Thơ khảo sát vùng nuôi cá tra, cá ba sa. Đại diện của đơn vị này đồng thời gặp gỡ một số nông dân là chủ nợ của Công ty cổ phần Thủy sản Bình An (Bianfishco). Mục đích của chuyến công tác là tìm hướng tháo gỡ khó khăn cho Bianfishco thoát khỏi nợ nần kéo dài nhiều tháng qua.
Trong ngày 18/4, lãnh đạo DATC và ông Trần Văn Trí - Tổng giám đốc Bianfishco đã làm việc cùng nông dân và Công đoàn các khu công nghiệp và chế xuất Cần Thơ. Tại buổi làm việc, DATC đưa ra hướng giúp Bianfishco trả nợ khi đạt được các thỏa thuận với người nuôi cá. 


Ông Phạm Thanh Quang, Tổng giám đốc DATC cho biết, khoản tiền hơn 200 tỷ đồng mà Bianfishco nợ nông dân đang được đơn vị này xem xét mua lại. Không riêng Bianfishco, DATC đang giải cứu hàng trăm doanh nghiệp khác trong cả nước thoát khỏi khó khăn với số tiền mua nợ xấu hơn 5.000 tỷ đồng.
Các phương án được ông Quang đưa ra là thông qua việc xử lý tài sản, DATC sẽ bơm vốn để Bianfishco trả nợ cho dân. Phương án tiếp theo là đàm phán để mua lại nợ mà nông dân đang vay ngân hàng nhằm tháo gỡ khó khăn trực tiếp cho người nuôi cá. Cuối cùng là đàm phán thẳng với dân để mua lại những khoảng nợ mà Bianfishco đang thiếu.
Sau khi nghe ông Quang trình bày, nông dân Thái Bá Thi ở quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ đại diện cho 10 hộ nuôi cá đề nghị DATC nên mua lại hết số nợ gốc mà Bianfishco đang thiếu nông dân. Đối với lãi suất phát sinh do Bianfishco vi phạm hợp đồng thanh toán tiền mua cá, nông dân sẽ bàn với ông Trí để thống nhất mức lãi suất, thậm chí giảm một phần nhằm chia sẻ khó khăn với Bianfishco.


Với đề xuất này, ông Trí yêu cầu nông dân khẩn trương đến Bianfishco đối chiếu công nợ làm cơ sở cho việc xử lý. Theo ông Trí, vài ngày tới, công ty sẽ cho nhà máy nước uống Colagen, nhà máy giá trị gia tăng và Viện nghiên cứu thủy sản Bình An hoạt động. Nhà máy thủy sản cũng đang có hướng mở cửa trở lại sớm sau khi trả hết nợ cho dân vào những ngày cuối tháng 4. Tuy nhiên, để đảm bảo đủ nguyên liệu khoảng 300 tấn mỗi ngày cho nhà máy thủy sản tái sản xuất, Bianfishco phải có 200 tỷ đồng vốn lưu động.
Kết thúc buổi làm việc, Tổng giám đốc DATC cho biết công ty đã có sẵn tiền, chỉ cần thống nhất phương án với nông dân và Bianfishco là giải ngân ngay. Vì vậy, những ý kiến của nông dân với Bianfishco sẽ được ông Quang ghi nhận, báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính nhằm thống nhất phương án xử lý nợ cho Bianfishco.

BỐN DOANH NGHIỆP ĐẦU MỐI ĐỀ NGHỊ TĂNG GIÁ XĂNG DẦU


Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho biết tính đến chiều 18/4, đã có 4 doanh nghiệp nhập khẩu đầu mối xăng dầu gửi phương án tăng giá đến Bộ Tài chính.
Đại diện một trong 4 doanh nghiệp đầu mối này cho biết nguyên nhân xin tăng giá xăng dầu là do giá cơ sở cao hơn giá bán lẻ nên doanh nghiệp đang bị lỗ. 



Bốn doanh nghiệp gồm: Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PV Oil), Công ty TNHH một thành viên Dầu khí TPHCM (Sài Gòn Petro), Công ty TNHH một thành viên Thương mại Dầu khí Đồng Tháp.

Đại diện một trong 4 doanh nghiệp đầu mối này cho biết nguyên nhân xin tăng giá xăng dầu là do giá cơ sở cao hơn giá bán lẻ nên doanh nghiệp đang bị lỗ.

Theo ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá, giá xăng dầu thành phẩm bình quân trong 30 ngày qua vẫn ở mức cao khoảng 134 USD/thùng. Hiện tại mức thuế nhập khẩu các mặt hàng xăng dầu đang ở mức 0%. Do vậy, để bảo đảm hài hòa quyền lợi của người tiêu dùng và doanh nghiệp, Bộ Tài chính đang xem xét, tính toán.

TỈNH TÁO CHỌN CÁCH CỨU DOANH NGHIỆP

Không thể chậm trễ hơn trong quyết định lựa chọn nhóm giải pháp chính sách tổng thể từ Chính phủ và có địa chỉ rõ ràng để cứu doanh nghiệp.
Sự đuối sức trong hoạt động của doanh nghiệp hiện rõ trên các bảng báo cáo tài chính quý I/2012 đang được công bố, với phần lợi nhuận âm ngày càng lớn. Tăng trưởng tín dụng 3 tháng đầu năm ở mức âm, trong đó dư nợ mới giảm mạnh, cho thấy, không chỉ nhu cầu, mà cả điều kiện để vay vốn ngân hàng của doanh nghiệp cũng đã giảm mạnh. Với thực tế có tới 80% vốn hoạt động của doanh nghiệp dựa vào nguồn vốn ngân hàng, thì dường như, mọi hoạt động của doanh nghiệp đang dần đóng băng.
Không chỉ doanh nghiệp nhỏ yếu sức, nhiều đại gia cũng đang dần gục ngã trên đống hàng tồn kho chưa thấy cửa ra. Tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, tín dụng đen tràn lan... báo trước những hiểm họa khôn lường về hiệu ứng đôminô, nếu không có sự kiểm soát và giải cứu kịp thời từ Chính phủ.
Hàng loạt đề xuất phương án giải cứu đã và đang được thực hiện. Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện đúng lộ trình về giảm lãi suất huy động, với cam kết sẽ đưa trần lãi suất huy động về 10%. Bộ Tài chính đang đề xuất tiếp phương án giãn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, sau khi đã thực hiện giải pháp này cho năm tài chính 2011…
Tuy nhiên, cùng với đó, những thông tin về tăng giá điện, giá xăng, thực hiện lộ trình về tăng lương tối thiểu cũng đồng thời được đưa ra. Đó là chưa kể hàng loạt đề nghị về bổ sung, tăng các loại phí mà nhiều bộ, ngành đưa ra ngay trong lúc cả nền kinh tế, các doanh nghiệp phải xoay vần với tốc độ gia tăng của chi phí đầu vào và sự thu hẹp của thị trường đầu ra sau những tác động của các chính sách kiểm soát lạm phát… Dường như hiệu quả của các giải pháp giãn, giảm thuế hay nỗ lực giảm trần lãi suất huy động để kéo mặt bằng lãi suất cho vay khó phát huy khi các thông điệp chính sách không được phát đi rõ ràng.

Sự thống nhất về mục tiêu và tính tổng thể trong điều hành chính sách một lần nữa lại được đặt ra, bởi sẽ không thể chờ đợi một liều thuốc thần tiên cứu được toàn bộ hàng trăm nghìn doanh nghiệp đang cần phao cứu trợ sau khi đã nỗ lực hết cách để tự cứu mình.
Câu hỏi là, những cái phao cứu trợ ấy sẽ được dành cho những doanh nghiệp nào, theo những tiêu chí nào, để đảm bảo quy luật sàng lọc doanh nghiệp năng lực yếu kém của thị trường không bị can thiệp quá tay.
Đang có quan điểm cần lựa chọn những doanh nghiệp đầu tàu, năng lực cạnh tranh tốt trong các nhóm ngành, lĩnh vực, dựa trên phân loại của các hiệp hội và sự đánh giá của các ngân hàng để tiến hành các gói giải cứu. Mục tiêu được xác định là sự chuyển động tích cực của các doanh nghiệp này sẽ đủ sức kéo theo dòng chuyển của sản xuất, mở dần sức mua cho thị trường hàng hoá. Hơn thế, cùng với đề xuất về một gói kích cầu tiêu dùng cho sản xuất, các doanh nghiệp này sẽ là đầu kéo cho nền kinh tế khi khủng hoảng chấm dứt.
Tuy nhiên, với 96% doanh nghiệp thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực đang đi đầu trong tạo việc làm, nên không ít người coi trọng tâm cứu trợ phải là khu vực doanh nghiệp này.
Thử nhìn lại nhóm tiêu chí mà Chính phủ Mỹ đã đưa ra khi chọn đối tượng hỗ trợ cho một phần trong gói cứu trợ kinh tế lên tới 850 tỷ USD vào cuối năm 2008. Tất nhiên, mọi so sánh đều khập khiễng, song đối tượng và đánh giá tác động mà gói hỗ trợ này đưa ra có thể là một phương án cần được nghiên cứu. Khi đó, việc giải ngân dòng tiền hỗ trợ doanh nghiệp được Chính phủ Mỹ căn cứ trên quy mô doanh nghiệp, mức độ ảnh hưởng đến nền kinh tế và hệ thống tài chính. Chính nhờ gói cứu trợ này, General Motors, từ điểm “phá sản hụt” vào năm 2008-2009, mới đây đã tuyên bố chính thức giành lại danh hiệu là hãng xe bán số 1 thế giới từ tay Toyota. Chrysler cũng tưng bừng ăn mừng thắng lợi khi doanh số bán hàng tăng tới 44% so với cùng kỳ năm 2011.
Tất nhiên, những gói cứu trợ doanh nghiệp luôn có hai mặt của nó, đáng lo nhất là những tác động bất thường ảnh hưởng tới sự phục hồi lành mạnh của thị trường cũng như khả năng phát sinh lợi ích nhóm. Song, đúng như các chuyên gia kinh tế đang khuyến cáo, trong bối cảnh kinh tế không bình thường, Chính phủ phải sẵn sàng đặt ra những giải pháp bất thường với sự tỉnh táo và cân nhắc rõ lợi ích và chi phí. Đồng thời, cũng cần kêu gọi sự chia sẻ và đồng hành của doanh nghiệp và ngân hàng.

Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

NHỮNG CÚ LỪA BẠC TỈ CỦA DOANH NGHIỆP MA

Hiện nay có rất nhiều cá nhân tập thể đăng ký thành lập công ty để kinh doanh nhưng trong đó nhiều người đã đăng ký kinh thanh lap cong ty co phan nhưng thực chất là để lừa đảo thu về với số tiền khổng lồ. Để đăng ký thành lập công ty  họ đã thuê cả ôsin, xe ôm để đứng tên đăng ký. Đó là những công ty ma họ thu mua hóa giá trị gia tăng rồi tìm đầu ra là những công ty nhà nước và tư nhân để ăn chênh lệch, làm ăn với nhiều công ty nhưng họ lại không quyết toán với cơ quan thuế mà chỉ kê khai là hàng có giá trị thấp, đến khi cơ quan thuế kiểm tra thì đánh bài chuồn và cứ thế là biến mất. Có trường hợp thì bị cơ quan phát hiện khởi tố đã thu về một khoảng tiền khá lớn trị giá hàng tỉ đồng từ việc mua bán hóa đơn giá trị gia tăng.
Thực tế hiện nay Luật doanh nghiệp quá thông thoáng, thủ tục cấp giấy phép đã giảm đi rất nhiều, đực biệt là doanh nghiệp tư nhân và những ngành nghề kinh doanh không thuộc lĩnh vực nhạy cảm. Trước kia thì các cá nhân tập thể cần đến 7 loại giấy tờ thì hiện nay chỉ cần 3 là đủ. Một trong những công đoạn troan việc trong việc xin giấy phép là cần có tiền là đủ. Và với việc nhiều dịch vụ thành lập công ty ra đời thì thủ tục thành lập công ty lại thuận tiện hơn chỉ cần trả một khoảng tiền nhỏ thì cũng đã hoàn tất các thủ tục.
 Và vấn dề quan trọng hiện nay là nhà nước ta chưa thực sự quản lý tốt các doanh nghiệp nên không kiểm soát được việc sử dụng hóa đơn của họ. Sau khi được cấp giấy phép thì doanh nghiệp tự do kinh doanh và họ chịu sựu quản lý về mặt thuế đối với cơ quan thuế nhưng những động tác quản lý này chỉ đượ thực hiện sau thời gian nhất định trong năm thường thì sau khi công ty ma đã giao dịch được vài quyển hóa đơn thì  cán bộ nhà nước mới đến thì công ty không còn trụ sở ở đó nữa hoặc chưa bao giờ tồn tại. Những nguyên nhân đó đã khiến ngân sách nhà nước thất thoát khoảng tiền khá lớn so với việc phát hiện doanh nghiệp ma.

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

KẾ TOÁN - NGHỀ VÀNG CHƯA ĐƯỢC KHAI THÁC


Kinh tế phát triển, nhiều công ty ra đời nên theo đó là một lượng lớn nhân viên kế toán được các nhà tuyển dụng săn lùng. Như vậy kế toán là nghề vàng nhưng hiên nay nó vẫn được chưa khai thác hết.

Tiềm năng có thể nhìn thấy được như hiện nay hàng loạt công ty ra đời nên một lượng lớn nhân viên kế toán được nhà tuyển dụng tìm kiếm do đó nhân lực chất lương cao của nghề đang thịnh hành. Thế mạnh của ngành kế toán là môi trường làm việc rộng lớn bất kỳ một công ty xí nghiệp nào dù mô hình lớn hay nhỏ thì cũng cần ít nhất một nhân viên kế toán. Có rất nhiều dạng kế toán khác nhau để bạn lựa chọn như nghề thuế, nhân viên kế toán hành chính, tính lương, kiểm toán,... Mức thu nhập cũng khá ổn định và có chiều hướng gia tăng.
Công việc chính của kế toán là nắm tình hình tài sản những hoạt động mua bán, tính lương bổng cho nhân viên, vay vốn,... Người kế toán cần tập trung để giải quyết các công việc liên quan đến chuyên môn của mình. Kế toán thu nhận tổng hợp các thông tin, xử lý báo cáo các số liệu thu chi liên quan đến công ty mình công tác.
Điều kiện cần của một kế toán: Bạn phải có kiến thức chuyên môn, phải rèn luyện tích lũy trong quá trình nghiên cứu học tập. Tính cẩn thận là một yêu cầu rất quan trọng trong nghề này bởi kế toán là nghề gắn liền với sổ sách gắn liền với những con số mà nó nói lên được tình hình tài chính của doanh nghiệp. Bạn phải biết cách quản lý hồ sơ sao cho hợp lý nhất, dễ tìm kiếm nhất và khi tổng hợp những con số thì phải thật cẩn thận nếu có một sai sót nhỏ xảy ra thì ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp. Nghề này có mối quan hệ với nhiều nghề khác như thuế, ngân hàng như vậy bạn nên trao dồi kiến thức về báo cáo tài chính, phân tích tài chính, kỹ năng đàm phán. Trong công việc nên chia sẽ kinh nghiệm nhưng kế toán là nghề đặc thù mang tính chất bí mật nên bạn cần thật cẩn thận trong hành động và lời nói của mình. Ngoài ra, kiến thức về tin học, ngoại ngữ cũng rất cần thiết để bạn nghiên cứu tài liệu, đọc hiểu báo cáo tài chính cũng có cơ hội trong việc thăng tiến.

Như vậy với nền kinh tế phát triển như hiện nay, thì kế toán là một nghề hot và nếu bạn biết nắm có hội thì tại sao không chứ?